Đông y với bệnh tay chân mi��ng

Hiện nay, số trường hợp mắc bệnh tay chân miệng đang tăng mạnh, đ.biệt tại địa bàn nhiều tỉnh phía nam. Và đa số mọi người muốn biết đối với loại bệnh này, có thể áp dụng đông y, thuốc nam để phòng chống - phòng ngừa, chữa trị hay không?

Trong Đông y truyền thống, không thấy nói về đến căn bệnh có tên "thủ - túc - khẩu" (tay - chân - miệng). dù vậy, căn cứ vào các triệu chứng những biểu hiện và tình trạng lây lan nhanh thành dịch, các chuyên gia Đông y tiên tiến đã xếp bệnh "tay - chân - miệng" vào phạm trù của "Ôn bệnh học".

Trên lâm sàng, Đông y thường căn cứ vào triệu chứng biểu hiện thông tin cụ thể, để phân loại các chứng trạng bệnh và áp dụng vị thuốc, bài thuốc phù hợp, theo quy tắc "biện chứng luận trị" như sau:

Thể thấp độc tập phu:

Khi ở bệnh nhi có mặt các chứng trạng: miệng và chân tay xuất hiện những thử hỏi nước hình dạng tì thầm khác nhau. bộ phận các thử hỏi nước mau chóng vỡ ra thành vết loét. kéo theo sốt nhẹ, kém ăn, chất lưỡi đỏ nhạt, mạch phù sác...

Đó là những chứng trạng của loại bệnh lý, mà trong Ôn bệnh học của Đông y gọi là "Thấp độc tập phu" (thấp độc tiến công vào phần da).

Với trường hợp này, có thể áp dụng các vị thuốc, bài thuốc có công dụng "thanh nhiệt giải độc" và "hóa thấp hoạt huyết" để chữa:

Bài thuốc tiêu biểu (Thanh ôn bại độc ẩm gia giảm): áp dụng sinh thạch cao (thạch cao chưa nung) 30g, sinh địa hoàng 10g, sừng trâu 20g, hoàng liên 8g, chi tử 10g, huyền sâm 12g, đan bì 10g, tiên trúc diệp (lá tre tươi) 5g, cát cánh 6g, cam thảo 5g; Sắc nước uống trong ngày.

Thể thấp nhiệt uẩn kết:

Nếu tại bệnh nhi xuất hiện những chứng trạng: mặt, lưng hoặc chung quanh các móng tại ngón chân, ngón tay và gót chân, bàn chân, bàn tay có mặt nhiều nốt phỏng nước hình dáng khác nhau, nốt nhỏ cỡ như hạt gạo, nốt to cỡ như hạt đậu; kéo theo miệng loét, hơi thở hôi, trướng bụng, kém ăn, phiền khát, đi đồng táo kết, tiểu tiện sẻn đỏ hoặc tiểu đục, chất lưỡi đỏ, rêu lưỡi vàng mỏng nhớt, mạch nhu sác.

Đó là những chứng trạng của loại bệnh lý, mà trong Ôn bệnh học của Đông y gọi là "Thấp nhiệt uẩn kết" (thấp tà và nhiệt tà tích đọng).

Để chạy chữa có thể dùng các vị thuốc, bài thuốc có công dụng "thanh hóa thấp nhiệt" và "giải độc" để chữa.

Bài thuốc điển hình (Tả hoàng thang gia giảm): dùng hoắc hương 20g, chi tử (dành dành) 6g, sinh thạch cao 15g, nhẫn đông đằng 12g, kinh giới 8g, sinh cam thảo 6g; sắc nước uống trong ngày.

Thể tâm tỳ tích nhiệt:

Nếu thấy tại bệnh nhi lộ diện những chứng trạng: trong khoang miệng và vòm khẩu cái có nhiều mụn nước, da quanh mụn ửng đỏ, đầu những ngón chân, ngón tay cũng có mặt những mụn nước hoặc vết loét; kèm theo miệng khô khát nước, tiểu tiện sẻn đỏ; lưỡi ít rêu hoặc rêu lưỡi mỏng; mạch tế sác.

Đó là tín hiệu của chứng "Tâm tỳ tích nhiệt" (nhiệt tích ở những tạng tâm, tỳ).

Có thể áp dụng những vị thuốc, bài thuốc có công dụng "thanh tả tâm tỳ" và "lợi niệu giải độc" để chữa.

Mộc thông
Mộc thông

Bài thuốc điển hình (Đạo xích tán gia giảm): sử dụng mộc thông, sinh địa, cam thảo, trúc diệp (lá tre), xa tiền tử, đăng tâm thảo, liên tử tâm... mỗi thứ 3 - 5g, sắc nước uống.

Việc sử dụng Đông Nam dược để phòng trị hoặc trợ giúp - hỗ trợ trị liệu ở nhà, cần thực thi dưới sự chỉ dẫn, giám sát chặt chẽ của nhiều y sĩ tại nhiều tiền đề khám chữa bệnh y khoa cổ truyền có uy tín. Nếu thấy ở trẻ có dấu hiệu lạ, cần đưa ngay đến phòng khám, để xử lý một cách kịp thời.

Lương y HUYÊN THẢO

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Ý nghĩa các kiểu mặt nạ "ám ảnh con người" trong lịch sử

Nhận biết đậu phụ có thạch cao

Cách nhận biết đậu phụ có thạch cao, nhiễm nấm